Ngành Ngân hàng đang đối mặt với nhiều thách thức

Tính đến ngày 05/11/2023 đã có 27/27 ngân hàng niêm yết công bố kết quả kinh doanh quý 3/2023, nhìn chung LNST Q3-2023 của toàn thị trường tiếp tục suy giảm trong bối cảnh vĩ mô chưa thực sự thuận lợi, nên LNST Q3-2023 của nhóm ngân hàng cũng giảm nhẹ so với cùng kỳ (-1,4%) nhưng điều đáng lưu ý là P/E của nhóm ngân hàng đang ở mức 8,8x, thấp hơn khá nhiều so với P/E của VNIndex ( 13,1x )

P/B trượt 12 tháng của ngành Ngân hàng đang tiệm cận về mức -1 lần độ lệch chuẩn so với bình quân giai đoạn 2010 đến nay (1,4x).

Đây là mặt bằng định giá tương đối hấp dẫn trong lịch sử, nhưng dòng tiền khá thờ ơ với nhóm cổ phiếu này thể hiện Tỷ trọng phân bổ dòng tiền trung bình của ngành ngân hàng chỉ chiếm 12-14% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường, trong khi tỷ trọng vốn hóa của nhóm ngân hàng chiếm đến 45%.

Cơ cấu tỷ trọng vốn hóa của thị trường chứng khoán tính đến Q3/2023

Đi sâu vào đánh giá nhóm này ở các vấn đề cụ thể

  • Đà suy giảm về LNST chưa có tín hiệu dừng lại nguyên nhân chủ yếu do (1) thu nhập lãi thuần kém đi vì tín dụng tăng thấp trong bối cảnh khả năng hấp thụ vốn kém của nền kinh tế và NIM thu hẹp và (2) mảng banca và tư vấn phát hành bị ảnh hưởng bởi diễn biến tiêu cực gần đây liên quan đến hoạt động bán chéo bảo hiểm và phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Một số ngân hàng (TCB, VIB, LPB) có lợi nhuận đột biến từ hoạt động kinh doanh ngoại hối trong bối cảnh thanh khoản dư thừa, cho vay kém tích cực và tỷ giá tăng mạnh.
LNST giảm quý thứ 3 liên tiếp so với cùng kỳ
Thu nhập thuần từ lãi và ngoài lãi cùng suy yếu
  • NIM tiếp tục thu hẹp do tác động trễ của việc hạ lãi suất và tăng trưởng tín dụng thấp. Trong quý 3/2023, NIM toàn ngành tiếp tục thu hẹp, giảm về 3,3% so với 3,8% cùng kỳ và 3,4% trong Q2-2023. Hai nguyên nhân chính khiến NIM dần thu hẹp đó là chi phí vốn giảm chậm do tác động trễ của việc hạ lãi suất huy động trong khi lãi suất cho vay chịu áp lực giảm để hỗ trợ doanh nghiệp theo chỉ đạo từ Chính phủ và NHNN cũng như gặp khó trong việc tìm kiếm khách hàng “chất lượng”
NIM thu hẹp quý thứ 4 liên tiếp
  • Chất lượng tài sản tiếp tục suy giảm: Tỷ lệ NPL nội bảng tăng lên mức 2,2% trong Q3-2023 từ mức 2,1% của Q2-2023 và 1,6% cùng kỳ. Cụ thể, nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) có xu hướng tăng mạnh +135% YoY và +35% QoQ (chủ yếu ở nhóm các ngân hàng quốc doanh) trong khi nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) quay đầu giảm sau nhiều quý tăng trước đó.
    Nhiều khả năng đây là do hiện tượng nhảy nhóm nợ ở đối tượng không trả được nợ, và nguy cơ nhảy nhóm sẽ tiếp tục gia tăng nếu thời gian tới nền kinh tế không có sự cải thiện rõ ràng hơn.
Tỷ lệ NPL cao nhất trong 5 năm qua
  • Bộ đệm dự phòng mỏng đi: Nợ xấu gia tăng nhưng chi phí trích lập dự phòng của toàn ngành không tăng tương ứng, giúp lợi nhuận của các ngân hàng không giảm sâu. Tỷ lệ CIR tiếp tục ở mức thấp so với mức trung bình trước dịch (35% vs. 42,2%), cho thấy các ngân hàng vẫn đang nỗ lực kiểm soát chi phí hoạt động khi thu nhập bị ảnh hưởng. Hiện nay bộ đệm dự phòng của nhóm này đang mỏng đi đáng kể và gần về mặt bằng trước dịch COVID-19. Các khoản cho vay với lĩnh vực BĐS vẫn tiềm ẩn rủi ro trong bối cảnh ngành hiện tại. Với bộ đệm dự phòng mỏng đi, các ngân hàng sẽ gặp nhiều hạn chế trong việc xử lý nợ xấu nếu phát sinh, tạo áp lực suy giảm lợi nhuận trong thời gian tới.

Như vậy KQKD kém đi trong các quý gần đây và triển vọng lợi nhuận chưa thực sự khả quan khi áp lực nợ xấu gia tăng và tăng trưởng tín dụng chững lại, khiến NĐT khá thận trọng với nhóm cổ phiếu này. Thêm 1 yếu tố đáng chú ý là dù định giá ở mức thấp, nhưng chỉ số giá của nhóm ngân hàng vẫn đang ở mức khá cao( quanh vùng đỉnh nửa đầu năm 2022). Vậy câu hỏi đặt ra là nếu triển vọng kinh doanh tiếp tục kém tích cực những khó khăn liên quan đến nợ xấu chưa khắc phục được buộc các ngân hàng sẽ phải bước vào cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt trên thị trường bán lẻ để giữ được lợi nhuận. Giá của các cổ phiếu ngân hàng có thể sẽ phải chiết khấu về một nền giá thấp hơn để hấp dẫn hơn.